Lý Giải của Một Khoa Học Gia Về Khả Năng Tồn Tại của Linh Hồn


soul-shutterstock-169802639-WEBONLY
Vũ trụ đầy bí ẩn đang thách thức kiến thức hiện tại của chúng ta. Trong chuyên mục “Beyond Science”, Epoch Times thu thập những câu chuyện về những hiện tượng kỳ lạ kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng không tưởng. Chúng có đúng không? Bạn tự mình quyết định.
Henry P.Stapp là một nhà vật lý lý thuyết tại Đại học California-Berkeley, đã từng làm việc với một số người được coi là cha đẻ của cơ học lượng tử. Ông không tìm cách chứng minh rằng linh hồn có tồn tại, nhưng ông nói rằng sự tồn tại của linh hồn phù hợp với các định luật vật lý.
Thật không đúng khi nói niềm tin vào linh hồn là không khoa học- theo Stapp. Ở đây từ “linh hồn” tương ứng với một nhân cách độc lập với não bộ hay là phần còn lại của cơ thể con người, có thể tồn tại sau khi chết. Trong bài báo “Tính Tương Thích giữa Vật Lý Lý Thuyết Đương Đại với sự Tồn Tại của Nhân Cách” (Compatibility of Contemporary Physical Theory With Personality Survival), ông viết: “nếu như chỉ dựa trên niềm tin rằng đời sống sau khi chết là không phù hợp với các định luật vật lý, thì không hề tìm thấy chứng cứ phản bác sự tồn tại của nhân cách.”
Ông nghiêng về lối giải thích cơ học lượng tử theo trường phái Copenhagen – là sự lý giải ít nhiều được sử dụng bởi một số nhà sáng lập nên cơ học lượng tử, Niels Bohr và Werner Heisenberg. Thậm chí Bohr và Heisenberg đã có một số bất đồng về sự hoạt động của cơ học lượng tử, và sự hiểu biết về học thuyết này so với thời đó cũng thay đổi nhiều. Bài viết của Stapp về sự giải thích của trường phái Copenhagen có ảnh hưởng rất to lớn. Bài báo này được viết trong những năm 1970 và Heisenberg đã viết một phụ lục.
Stapp đã ghi chú trong khái niệm của mình: “Không hề có gợi ý nào trong những mô tả (hoặc định nghĩa) của tôi hay trong cơ học lượng tử chính thống về sự tồn tại của linh hồn”.

Tại sao vật lý lượng tử có thể đưa ra các dấu hiệu về cuộc sống sau khi chết?

Stapp giải thích rằng những người sáng lập lý thuyết lượng tử yêu cầu các nhà khoa học nhất thiết phải chia cắt thế giới làm hai phần. Ở phần bề nổi, toán học cổ điển có thể mô tả các quá trình vật lý xuất hiện trong các thực nghiệm. Phần bên dưới, toán học lượng tử mô tả một lĩnh vực “không hoàn toàn tuân theo vật lý cố định”.
Ở phần bên dưới này, Stapp viết: “nói chung, sự biến đổi trạng thái của hệ thống phía dưới lát cắt không thể được giải thích bằng bất kỳ mô tả cổ điển nào đối với những tính chất quan sát được”.
Vậy làm thế nào các nhà khoa học quan sát được những thứ vô hình? Họ chọn những thuộc tính đặc thù của hệ thống lượng tử và lắp đặt thiết bị để xem ảnh hưởng của chúng đối với các quá trình vật lý “phần bề mặt.”
Điểm mấu chốt là sự lựa chọn của người làm thí nghiệm. Khi làm việc với hệ thống lượng tử, thực tiễn cho thấy sự lựa chọn của người quan sát có ảnh hưởng vật lý đến kết quả biểu hiện và có thể được quan sát ở phần trên bề mặt.
Stapp trích dẫn luận điểm tương tự của Bohr đối với sự tương tác giữa một nhà khoa học và kết quả thí nghiệm: “[Nó giống như] một người mù chống gậy: khi cây gậy được giữ lỏng, ranh giới giữa người đó với thế giới bên ngoài được phân chia ở giữa tay và gậy; nhưng khi nắm chặt, cây gậy trở thành một phần của việc tự dò: anh ta cảm thấy rằng bản thân mình mở rộng đến đầu cây gậy”.
Vật chất và tinh thần được kết nối một cách năng động. Về mối quan hệ giữa tâm trí và bộ não, giống như một người quan sát có thể tạm thời lựa chọn các hoạt động cho não bộ chứ không phải chỉ là suy nghĩ thoáng qua. Đây là một sự lựa chọn tương tự như lựa chọn một nhà khoa học làm việc khi quyết định tính chất của các hệ lượng tử để nghiên cứu.
Vật lý lượng tử có thể giải thích về vấn đề  tâm trí và não bộ có sự tách biệt hoặc khác nhau, chưa được kết nối bởi các định luật vật lý “là một tín hiệu chào đón”- Stapp đã viết. “Nó giải quyết một vấn đề đã ngăn cản các nhà khoa học và triết học trong nhiều thế kỷ- sự tư duy khoa học bắt buộc tưởng tượng hoặc để hòa hợp tâm trí với não bộ, hoặc để làm cho não hoạt động độc lập với tâm trí”.
Stapp nói rằng, không phải là trái với các quy luật vật lý mà cá tính của một người đã chết có thể ảnh hưởng tới một người đang sống, như trong trường hợp của cái gọi là tinh thần sở hữu. Nó sẽ không yêu cầu bất kỳ sự thay đổi cơ bản trong lý thuyết chính thống, mặc dù nó sẽ “yêu cầu việc này chỉ xảy ra khi thể chất và tinh thần kết nối với nhau (như một người còn sống cần thay thế tim từ một người hiến tạng đã chết và có thể bị ảnh hưởng bởi cá tính người đã chết này)“.
Lý thuyết vật lý cổ điển chỉ có thể né tránh vấn đề, và nhà vật lý cổ điển chỉ có thể làm việc để làm mất khả năng cảm quan của con người, Stapp nói. Khoa học nên thay đổi, ông nói, việc nhận ra “các hiệu ứng vật lý của ý thức là một vấn đề mà vật lý cần phải có câu trả lời”.

Việc này ảnh hưởng tới vấn đề đạo đức của xã hội như thế nào?

Hơn nữa, nó bắt buộc phải duy trì đạo đức con người để biết rằng nhân loại không chỉ là cái máy được cấu tạo bởi thể xác.
Trong bài báo khác, có tiêu đề “Sự quan tâm, Ý định và mong muốn trong Vật lý lượng tử”- Stapp đã viết: “Hiện nay mọi người đều nhìn nhận theo phương diện “khoa học” này rằng mỗi con người về cơ bản chỉ là một cơ khí robot (cấu thành từ máu và thịt), có thể có một tác động đáng kể đến sự trượt dốc đạo đức của xã hội”.
Ông đã viết về xu hướng “ngày càng tăng của người dân biện hộ cho mình bằng cách lập luận rằng không phải là “tôi” là người có lỗi, nhưng một số quá trình cơ học bên trong: ‘gene của tôi khiến tôi làm điều đó’; hay “lượng đường trong máu cao của tôi khiến tôi làm điều đó”. Nhớ lại những vụ án nổi tiếng ‘thây ma phòng vệ’ đó Dan White bị kết án 5 năm tù giam vì tội giết Thị trưởng San Francisco George Moscone và Giám sát Harvey Milk”.


Theo vietdaikynguyen